Điện năng ở Việt Nam xưa nay vẫn dựa vào "hai chân" là thủy điện và nhiệt điện. Nhưng thủy điện thì phụ thuộc nhiều vào thời tiết, còn nhiệt điện thì tiêu thụ rất nhiều than trong khi ngành than không đủ khả năng để đáp ứng. Điểm tựa điện hạt nhân thì còn… xa.
Công ty Cổ phần thủy điện Thác Bà đóng trên địa bàn huyện Yên Bình,
tỉnh Yên Bái. Đứa con đầu lòng của ngành thuỷ điện Việt Nam có 3 tổ máy
với công suất thiết kế 100 MW.
Ngày các phóng viên đến thăm là mới bắt đầu mùa khô nhưng nước hồ Thác
Bà xuống thấp hơn mực nước trung bình cùng kỳ hàng năm nhiều mét. Như
vậy là lòng hồ trong mùa mưa 2010 không tích đủ nước cho mùa khô năm
2011. Hôm đó Công ty Cổ phần thủy điện Thác Bà chỉ cho chạy một tổ máy
phát điện. Tổ máy thứ hai nghỉ, còn tổ máy thứ ba đang được đại tu với
sự giúp đỡ của các chuyên gia Ukraina.
Ông Nguyễn Quang Thắng, Phó tổng giám đốc phụ trách kỹ thuật – sản xuất
của Công ty Cổ phần thủy điện Thác Bà, cho biết: “Về mức nước thượng
lưu của Thác Bà thì năm 2010 so với mọi năm thấp hơn năm 2009, so với
năm 2008 lại càng thấp hơn. So với sản lượng hiện tại của Thác Bà thì
năm 2009 cao gấp đôi. Tháng 10/2009 Thác Bà phát được 409 triệu kWh,
nhưng trong tháng 10/20010 chỉ phát được 206 triệu kWh, kém hơn 200
triệu kWh. Với mức nước thấp trong lòng hồ thì Thác Bà không thể đạt kế
hoạch năm 2010. Mức nước hiện nay là 53,4m trong khi vào cùng thời điểm
của năm 2008 thì mức nước đạt 57m”.
Như chúng ta đã biết, mùa hè năm nay ở Việt Nam nắng nóng lạ thường và
nước sông cũng thấp kỷ lục. Do trời khô hạn kéo dài nên mới cuối tháng
5 mực nước ở hồ thủy điện Hòa Bình và các hồ khác xuống gần mực nước
chết, tức không thể vận hành máy phát điện. Mực nước các sông ở Việt
Nam thấp như vừa qua nhiều chục năm mới gặp phải và tình trạng này
khiến cho việc thiếu điện càng thêm trầm trọng.
Theo chị Trịnh Thu Phương, Phó trưởng phòng Dự báo Thủy văn Bắc Bộ
thuộc Trung tâm Dự báo Khí tượng – thủy văn Trung ương, trong những
tháng đầu năm 2011 tại Đồng bằng Bắc Bộ hạn hán có khả năng sẽ tiếp
tục. Dòng chảy của các sông suối tiếp tục xuống dần và nguồn nước thiếu
hụt 40% so với trung bình hàng năm. Đặc biệt dòng chảy phía Tây Bắc,
nơi hội tụ của hai hồ chứa lớn là hồ Sơn La và Hòa Bình có khả năng sẽ
thiếu hụt nặng nề nhất nhất là từ 30 – 35%. Dòng chính trên sông Hồng
có khả năng sẽ thiếu hụt 35%, còn ở phía Đông Bắc, nơi có sự hội tụ của
hai hồ chứa là hồ Thác Bà và hồ Tuyên Quang thì hiện tượng thiếu nước
sẽ tiếp tục xảy ra và sẽ thiếu hụt 20 – 30% so với mức trung bình nhiều
năm. Năm 2010 là năm Việt Nam chịu ảnh hưởng của hiện tượng El Nino rất
nặng nề.
Một số chuyên gia cho rằng thủy điện chiếm trên 35% tổng sản lượng điện
ở nước ta là điều bất cập vì thủy điện phụ thuộc vào mực nước sông mà
nước sông lại do thiên nhiên quyết định, thất thường và có tính chất
mùa vụ. Đó là chưa nói đến chuyện Việt Nam ở cuối nguồn các con sông
lớn trong khu vực, chịu tác động từ chính sách sử dụng nước của các
quốc gia ở thượng lưu. Ngay cả những quốc gia có nhiều dòng sông lớn
cũng không quá trông chờ vào thủy điện, tỷ trọng thủy điện chỉ dao động
từ 10 đến 20% trong tổng sản lượng điện. Tiến sĩ Vật lý và là nhà hoạt
động môi trường Nguyễn Văn Khải nêu rõ: “Thủy điện cho thấy nguy cơ rất
lớn không chỉ ở một nước mà ở nhiều nước trên thế giới. Thủy điện trong
hàng chục năm đầu phát huy rất tốt nhưng về sau gây ra hiện tượng kiệt
nước. Song nguy cơ lớn nhất của thủy điện là gây biến đổi khí hậu, môi
trường”.Tuy nhiên, ông Đặng Hoàng An, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt
Nam (EVN) lại cho rằng trong điều kiện của nước ta thì tỷ trong thủy
điện hiện nay trong hệ thống điện năng là hợp lý. Trả lời phỏng vấn của
PV, ông nói: “Theo kế hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006
– 2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, công suất thủy điện vào
năm 2015 vào khoảng 18.000 MW, sản lượng trung bình năm khoảng 80 tỷ
kWh vào năm 2015, chiếm 36% công suất của hệ thống điện và khoảng 31,6%
sản lượng điện của hệ thống. Vào thời điểm hiện nay công suất lắp đặt
trong thệ thống điện vào cỡ 20.630 MW, riêng công suất thủy điện chiếm
36% - khoảng trên 7.400 MW.
Về mặt sản lượng thì thủy điện chiếm 35%
sản lượng của hệ thống điện của tháng 10/2010. Việc phát triển thủy
điện cùng các nguồn điện khác trong quan hệ phát triển điện nằm trong
bài toán cân đối cung cầu thuộc về năng lượng sơ cấp. Mà chúng ta biết
rằng năng lượng sơ cấp gồm có than đá, dầu khí, thủy điện và các nguồn
năng lượng tái tạo gồm điện gió, năng lượng mặt trời, điện nhiệt và
năng lượng hạt nhân trong tương lai. Ở nước ta với tiềm năng của hệ
thống sông ngòi thì việc khai thác thủy điện theo chỉ đạo của Chính phủ
hiện nay được đánh giá là hợp lô gích”.
Theo các chuyên gia, trong khi thủy điện phải phụ thuộc vào nguồn nước
thì để giải bài toán thiếu điện Việt Nam phải đầu tư xây dựng thêm hàng
chục nhà máy nhiệt điện chạy bằng than với công suất 25.000 – 30.000
MW. Có phải nhiệt điện là giải pháp tối ưu cho nước ta trong tương lai?
Chúng tôi đã đến thăm Công ty Cổ phần nhiệt điện Phả Lại đóng trên địa
bàn tỉnh Hải Dương, nơi có hai tổ máy hoạt động với tổng công suất
thiết kế 1.040 MW. Ông Vũ Xuân Cường, Phó Tổng giám đốc kỹ thuật, cho
biết: Công ty được EVN giao nhiệm vụ phát lên lưới điện quốc gia hơn 7
tỷ kWh trong năm 2010. Để đạt được nhiệm vụ này hai tổ máy đã làm việc
không ngừng nghỉ, “quên” cả thời gian bảo dưỡng định kỳ nhằm gánh đỡ
cho thủy điện vào mùa nước cạn. Song, hai tổ máy của công ty hoàn toàn
phụ thuộc vào nguồn than trong khi kho than dự trữ chỉ đảm bảo được 20
ngày.
Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cũng thừa nhận,
lượng than cam kết cung cấp cho ngành điện đã vượt rất xa khả năng sản
xuất trong nước. Do đó, nhập khẩu than là không tránh khỏi kể từ năm
2015 trở đi.
Trong khi “hai chân” đều có điểm yếu thì chỗ dựa tương lai của ngành
điện sẽ là điện hạt nhân. Hai nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của Việt
Nam sẽ có công suất 8.000 MW, một con số không nhỏ nếu ta biết rằng
tổng công suất của các nhà máy điện hiện nay ở nước ta là 14.000 MW.
Nhưng đó là vào năm 2025 và khi mọi việc diễn ra suôn sẻ.
Theo LH các Hội KH&KT Việt Nam