Thứ sáu, 09/01/2026 | 11:03 GMT+7

Báo cáo phân tích Hệ số đàn hồi điện/GDP của Việt Nam năm 2025 và dự báo trong tương lai tới

08/01/2026

Ông Nguyễn Anh Tuấn (A) - Hội Đồng Khoa học Tạp chí Năng lượng Việt Nam đã có bài báo cáo phân tích về Hệ số đàn hồi điện/GDP của Việt Nam năm 2025 và dự báo trong tương lai tới.

Như chúng ta đều biết, sau khi EVN công bố số liệu về tổng sản lượng điện thương phẩm năm 2025 chỉ tăng 4,9% so với năm 2024, trong khi tăng trưởng GDP của nền kinh tế đạt 8,02%. Sự chênh lệch này khiến không ít ý kiến băn khoăn, thậm chí đặt câu hỏi liệu có sự “bất thường” giữa tăng tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tiêu thụ điện, vốn lâu nay vẫn được xem là hai chỉ tiêu có quan hệ song hành.
Trước những băn khoăn của dự luận, chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam có Báo cáo phân tích Hệ số đàn hồi (Elasticity) trên GDP của Việt Nam trong các năm gần đây, nhằm làm rõ xu thế tăng nhu cầu điện các giai đoạn trước đây và hiện nay, đánh giá một số yếu tố tác động đến mối tương quan này; đồng thời làm rõ hơn dự báo hệ số đàn hồi trong giai đoạn đến năm 2050 của Quy hoạch điện VIII.Việc phân tích, đánh giá thường xuyên mối quan hệ giữa tăng trưởng nhu cầu điện và tăng trưởng kinh tế có vai trò hết sức quan trọng. Thứ nhất, nó giúp bên cung cấp điện có kế hoạch sát thực, điều độ vận hành hệ thống sản xuất, truyền tải, phân phối điện, nhằm cung cấp điện an toàn liên tục trong ngắn hạn (hàng năm). Thứ hai, các phân tích này được sử dụng trong công tác dự báo nhu cầu điện trong trung và dài hạn, phục vụ công tác lập quy hoạch, đầu tư phát triển ngành điện. Trên cơ sở dự báo về tốc độ tăng trưởng GDP theo các ngành kinh tế (công nghiệp - xây dựng; nông nghiệp; dịch vụ thương mại), các xu hướng cải tiến, đổi mới công nghệ, thiết bị sản xuất, các hoạt động tiết kiệm - hiệu quả năng lượng, tăng trưởng dân số và đô thị hóa… việc phân tích mối quan hệ giữa nhu cầu điện và tăng trưởng GDP sẽ cho thấy xu thế của tăng trưởng nhu cầu điện trong giai đoạn quy hoạch theo từng ngành, lĩnh vực sử dụng điện. Một trong các chỉ số thường được sử dụng trong phân tích nói trên là “Hệ số đàn hồi điện đối với GDP”.
I. Hệ số đàn hồi điện - xu thế chung:
“Hệ số đàn hồi điện đối với GDP” biểu thị mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện (E) đối với tốc độ tăng trưởng GDP (▲E%/▲GDP%). Đối với kỳ quan sát là 20-25 năm, hệ số này được tính theo mỗi chu kỳ 5 năm liên tục. Các nhà phân tích cung - cầu điện trên thế giới cũng thường sử dụng chỉ số này. Trong các Quy hoạch điện quốc gia Việt Nam trước nay, “hệ số đàn hồi” cũng là một trong các phương pháp được sử dụng để phân tích và dự báo nhu cầu điện.
Trong giai đoạn trước năm 2010, các báo cáo quốc tế nhận định rằng: Hệ số đàn hồi điện/GDP của các nước phát triển - công nghiệp tiên tiến là dưới 1; các nước đang trong quá trình đổi mới sản xuất và tăng cường hiệu quả năng lượng có hệ số đàn hồi khoảng 1; còn các quốc gia đang phát triển, có nhiều yếu tố công nghệ lạc hậu, kém hiệu quả có hệ số này từ 1,4 đến xấp xỉ 2.
Theo nguồn dẫn từ WB (Ngân hàng Thế giới) và EI (Viện Năng lượng thuộc Hoàng gia Anh quốc): Tương ứng giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010, Hệ số đàn hồi điện/GDP của Hoa Kỳ là 0,51 và 0,33; Nhật Bản là 0,8 và âm (- 1,06); Trung Quốc là 1,32 và 0,97; Malaysia là 1,51 và 1,08; Sigapore 0,79 và 0,52; còn Việt Nam là 2,09 và 1,9.
Hình dưới đây trích dẫn từ Báo cáo Quy hoạch điện VIII, trong đó biểu thị hệ số đàn hồi (HSĐH) của 9 quốc gia, bao gồm cả các nước phát triển và đang phát triển, có tổng hợp hai khối APEC và ASEAN giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020.
Hình 1: HSĐH một số quốc gia và khu vực giai đoạn 2011-2020:
Ghi chú: Đây là tổng hợp từ nghiên cứu quốc tế, có thể khác đôi chút so với con số của Việt Nam.
Có thể thấy, theo tài liệu của APEC, trong giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020, các nước phát triển đều có HSĐH dưới 1 như Hoa Kỳ (-0,02; 0,43); Nhật Bản (-0,84 [1]; 0,37). Trung Quốc cũng giảm từ 0,92 xuống 0,48. Các nước đang phát triển như Thái Lan là 1,44 và 1,29 tương ứng Indonesia là 1,24 và 0,95. Việt Nam là quốc gia có mức HSĐH cao nhất là 1,84 và 1,44.
Điểm chung ở đây là xu hướng HSĐH càng ngày càng giảm, cho thấy sử dụng điện của các quốc gia, khu vực ngày càng hiệu quả hơn, một phần nhờ cải tiến công nghệ, hành vi sử dụng thiết bị điện ngày càng hiệu quả - tiết kiệm, phần khác là nhiều nước có sự chuyển dịch các ngành sản xuất tiêu hao nhiều điện sang lĩnh vực ít điện hơn.
II. Hệ số đàn hồi điện trên GDP của Việt Nam:
1. Xu hướng chung:
Gần đây, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Công ty Vận hành Hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO) và Cục Thống kê duy trì các cuộc họp thường xuyên nhằm trao đổi các số liệu về tốc độ tăng trưởng GDP toàn quốc, các ngành và phân ngành, số liệu về nhu cầu điện (điện thương phẩm) theo các khu vực, từ đó rà soát đánh giá mối quan hệ giữa nhu cầu điện và giá trị gia tăng (VA) các ngành, phối hợp xử lý để giảm thiểu các chênh lệch tồn tại giữa phân tổ ngành kinh tế và phân ngành tiêu thụ điện. Trên cơ sở số liệu, các bên xác định rõ hơn mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng của điện và tăng trưởng GDP. Cho đến nay, các cơ quan đều thống nhất là hệ thống số liệu được trao đổi minh bạch, đúng với hệ thống thống kê của mỗi bên.
Từ hệ thống thống kê của EVN và Cục Thống kê, dưới đây là hình biểu thị tổng hợp hệ số đàn hồi điện/GDP của Việt Nam qua các giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2024 với chu kỳ 5 năm (2021-2024 là 4 năm).
Hình 2: HSĐH của Việt Nam:
Giai đoạn từ năm 2000-2010, HSĐH của Việt Nam rất cao (xấp xỉ 2). Đến giai đoạn 2011-2015 HSĐH đã giảm xuống 1,86, và từ 2016-2020 còn 1,37. Đặc biệt giai đoạn 2021-2024, HSĐH chỉ còn 1,09, giai đoạn này cũng chứng kiến những hậu quả của đại dịch Covid-19. Xu hướng rõ ràng là Việt Nam cũng có HSĐH ngày càng giảm.
Theo tổng kết của EVN, nhu cầu điện thương phẩm năm 2025 là 287,9 tỷ kWh, tăng trưởng điện thương phẩm năm 2025 là 4,9%, thấp hơn nhiều so với năm 2024; điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống là 322,8 tỷ kWh, tăng trưởng chỉ 4,6%. Như vậy, tính toán tổng hợp cho thấy hệ số đàn hồi 5 năm - từ 2021-2025 giảm chỉ còn 0,96.
Tuy nhiên, khác với nhu cầu tiêu thụ điện cả năm, công suất cực đại của hệ thống năm 2025 là 54.370 MW, tăng tới hơn 11% so với con số 48.995 MW của năm 2024, cho thấy nhu cầu công suất cực đại vẫn tăng nhanh, trong khi nhu cầu tăng thấp hơn.
2. Phân tích HSĐH theo một số lĩnh vực, ngành kinh tế:
a. HSĐH theo 3 khu vực nền kinh tế:
Thực hiện khảo sát sâu hơn, phân tích HSĐH theo 3 khu vực đóng góp vào GDP giai đoạn từ năm 2010 đến nay, ta có các bảng tổng hợp sau:
Bảng 1: Tăng trưởng bình quân hàng năm các ngành kinh tế:
Bảng 2: Tăng trưởng bình quân điện thương phẩm theo ngành kinh tế và lĩnh vực dân dụng:
Hệ số đàn hồi tiêu thụ điện công nghiệp, dịch vụ thương mại [2] và quản lý - tiêu dùng dân cư [3] được biểu thị qua hình sau:
Hình 3:
Ghi chú: Trong tổng nhu cầu điện, điện cho công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất, từ 52-55%; sau đó là quản lý - tiêu dùng dân cư chiếm 34-35%. Điện cho khu vực nông nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (từ 1,6-3,6%) và có HSĐH biến thiên lớn và không có xu thế rõ ràng.
Có thể thấy, hai khu vực công nghiệp và quản lý - tiêu dùng dân cư có HSĐH theo nhu cầu điện giảm dần theo mỗi giai đoạn 5 năm. Đặc biệt là HSĐH công nghiệp có mức giảm nhanh, xuống 0,83 (dưới 1) vào giai đoạn 2021-2024. HSĐH của dịch vụ thương mại giảm nhanh giai đoạn 2016-2020 (từ 1,97 xuống 1,02), nhưng tăng trở lại 1,46 giai đoạn 2021-2024. Nhưng nhu cầu điện cho dịch vụ thương mại chỉ chiếm từ 8,8-10,5% tổng nhu cầu điện (điện thương phẩm), tác động không lớn. Khu vực quản lý - tiêu dùng dân cư có HSĐH giảm từ 1,54 giai đoạn 2011-2015 xuống 1,24 và 1,27 giai đoạn 2016-2020 và 2021-2024 tương ứng.
b. HSĐH theo một số ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều điện:
Để thấy cụ thể hơn về độ đàn hồi của ngành công nghiệp, các phân tích dưới đây chọn khảo sát 10 ngành công nghiệp có mức tiêu thụ điện trên 3 tỷ kWh/năm - nghĩa là khoảng trên 1% tổng nhu cầu điện giai đoạn 2021-2024.
Bảng 3: Giá trị gia tăng (VA) một số ngành công nghiệp 2021-2024 (đơn vị: nghìn tỷ VNĐ-giá so sánh):


2020

2021

2022

2023

2024

tăng trưởng 2021-2024

1

CN khai khoáng

161.404

151.254

159.893

154.343

143.166

-2.95%

2

Chế biến thực phẩm

128.083

131.624

137.332

148.312

159.720

5.67%

3

Đồ uống

30.566

28.285

34.151

35.042

35.672

3.94%

4

SX các SP phi kim loại

60.199

61.064

68.569

67.576

70.090

3.88%

5

SX kim loại

68.070

74.071

69.023

74.319

79.932

4.10%

6

SX các SP từ kim loại

75.013

80.276

87.409

95.179

103.410

8.36%

7

SX sợi, dệt

40.440

43.206

44.014

47.910

53.059

7.03%

8

SX hóa chất, phân bón

42.116

42.691

45.850

50.020

56.078

7.42%

9

SX sản phẩm nhựa, cao su

50.516

52.020

51.458

57.166

65.594

6.75%

10

Chế biến gỗ, các SP từ gỗ, tre

29.247

31.609

36.935

37.101

39.996

8.14%



Toàn ngành Công Nghiệp&XD

1824.415

1882.921

2036.939

2113.085

2287.202

5.81%



GDP

5005.756

5133.589

5571.869

5854.086

6269.210

5.79%

Bảng 4: Điện thương phẩm các ngành Công nghiệp 2021-2024 (đơn vị: tỷ kWh):


2020

2021

2022

2023

2024

tăng trưởng 2021-2024

1

CN khai khoáng

6.784

7.194

7.812

7.441

7.778

3.48%

2

Chế biến thực phẩm

15.002

15.184

15.222

15.581

16.672

2.67%

3

Đồ uống

3.324

3.098

3.541

3.596

3.757

3.11%

4

SX các SP phi kim loại

11.326

11.346

11.481

9.974

10.034

-2.98%

5

SX kim loại

8.518

9.258

8.291

7.316

8.407

-0.33%

6

SX các SP từ kim loại

9.085

10.156

10.25

10.058

10.986

4.86%

7

SX sợi, dệt

6.581

7.196

7.302

7.061

7.513

3.37%

8

SX hóa chất, phân bón

2.206

2.672

3.148

3.106

3.495

12.19%

9

SX sản phẩm nhựa, cao su

7.592

7.776

8.614

8.313

9.621

6.10%

10

Chế biến gỗ, các SP từ gỗ, tre

4.761

5.097

5.595

5.301

6.188

6.77%



Toàn ngành Công Nghiệp&XD

117.926

123.312

131.347

129.223

142.415

4.83%



Quản lý-Tiêu dùng dân cư

73.150

76.793

80.744

90.737

97.111

7.34%

Hình 4:
Qua các bảng 3, 4 và hình 4 cho thấy với giai đoạn 2021-2024:
- Toàn ngành công nghiệp - xây dựng có mức tăng trưởng giá trị gia tăng (VA) bình quân 5,81% hàng năm, nhưng tăng trưởng tiêu thụ điện chỉ bình quân tăng 4,83%/năm.
- Ngoài sản xuất hóa chất - phân bón có HSĐH tới 1,64, các phân ngành công nghiệp còn lại đều có HSĐH dưới 1; nhiều ngành có HSĐH âm (-) như công nghiệp khai khoáng, sản xuất kim loại, bao gồm cả ngành sản xuất các sản phẩm phi kim loại có nhu cầu điện tới trên 11 tỷ kWh/năm.
Một điểm chú ý là năm 2024 sản lượng điện tự sản xuất, tự tiêu thụ của một số hộ công nghiệp lớn (không phát lên hệ thống điện) và một số hộ công nghiệp, dân cư (đầu tư nguồn điện mặt trời mái nhà) đạt khoảng 7,56 tỷ kWh, bằng khoảng 2,75% tổng điện thương phẩm năm 2024.
- Tuy toàn ngành công nghiệp và xây dựng có HSĐH 0,83 (dưới 1), nhưng do lĩnh vực quản lý - tiêu dùng dân cư có HSĐH 1,27 đã kéo HSĐH toàn quốc lên trên 1 (1,09).
Kết quả khảo sát cho các nhận định:
- Tác động của dịch bệnh Covid-19 đã làm giảm nhu cầu điện toàn quốc trong các năm 2022 và 2023.
- Ngành công nghiệp vốn tiêu thụ nhiều năng lượng đã thực hiện một số giải pháp hiệu quả và tiết kiệm điện.
- Một số ngành công nghiệp đã chuyển hướng sang dây chuyền sản xuất tiên tiến, tiêu thụ ít điện hơn.
- Một vài hộ công nghiệp sử dụng nhiều điện tự đầu tư các nguồn điện sử dụng nhiệt dư tự sản xuất, tự tiêu thụ, không đưa vào hệ thống thống kê; số khác có xu hướng chuyển dịch sang sản xuất sản phẩm khác sử dụng ít điện hơn.
c. Khảo sát biến động về hệ số đàn hồi trong năm 2025:
Với các thông số về GDP toàn quốc, VA các ngành kinh tế và số liệu tiêu thụ điện năm 2025 mới được công bố, ta có những kết quả sau:
Ước tính năm 2025 các chỉ số GDP 3 khu vực:
Tiêu thụ năm 2025 (điện thương phẩm)
Như vậy, trong năm 2025 vừa qua, HSĐH của tổng điện thương phẩm so với GDP chỉ là 0,61; HSĐH của công nghiệp là 0,81; HSĐH của thương mại, khách sạn, nhà hàng là 0,55. Đặc biệt, trong kỳ này tiêu thụ điện của lĩnh vực quản lý - tiêu dùng dân cư chỉ tăng 1,10% so với năm 2024, dẫn đến HSĐH của quản lý - tiêu dùng dân cư chỉ là 0,14.
Đánh giá chung, trong chuỗi 5 năm (2021-2025), có 3 năm mà HSĐH thấp hơn 1 là các năm 2022 (0,88), 2023 (0,9) và 2025 (0,61).
Đối với lĩnh vực công nghiệp, có nhiều hộ sản xuất đầu tư nguồn phát điện phục vụ dây chuyền công nghệ (đồng phát nhiệt - điện, sử dụng nhiệt dư phát điện…) như một số nhà sản xuất thép, xi măng, hóa chất - phân bón, lọc dầu, mía đường v.v... Mặc dù điện tự sản, tự tiêu của những hộ này khá lớn, nhưng do họ không đưa vào lưới điện, không bán điện cho EVN, nên trong thống kê của EVN không thể có lượng điện năng này. Nếu tính thêm lượng điện này vào tổng nhu cầu, HSĐH của ngành công nghiệp ước tính lớn hơn 1.
Cũng theo tổng kết của Cục Thống kê: Năm 2025, ước tính có khoảng 10 tỷ kWh được sản xuất và tự tiêu thụ từ các nguồn điện mặt trời mái nhà của người dân, lượng điện này cũng không bán cho EVN, nên không nằm trong thống kê tổng điện thương phẩm. Riêng lượng điện này chiếm tỷ trọng khoảng 3,4% tổng thương phẩm.
Có thể lý giải tăng trưởng rất thấp của tiêu thụ điện trong quản lý - tiêu dùng dân cư vừa qua là do nửa đầu năm 2025 các ngày nắng nóng ít hơn, còn lại thời tiết mát mẻ hơn năm 2024, người dân giảm sử dụng điều hòa không khí và quạt. Mặt khác, có những yếu tố tác động đến sự chững lại của khu vực tiêu dùng dân cư. Cụ thể là, tỷ lệ các hộ dân cư được cấp điện trên toàn quốc đã đạt 99,85%, nhu cầu tăng thêm hộ được cấp điện còn rất ít; mức sống nâng lên nên nhiều hộ dân, các văn phòng công sở thay đổi sang các thiết bị dùng điện có hiệu suất cao hơn, giảm tiêu hao điện (ví dụ đèn LED, điều hòa hiệu suất cao…).
III. Tạm kết:
Qua các khảo sát, phân tích ở trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
1. Xu thế giảm dần HSĐH điện đối với GDP ngày càng giảm khi nền kinh tế ngày càng phát triển hơn. Các bất thường trong ngắn hạn có thể chưa phản ánh đúng xu hướng, cần thu thập thêm các thông số, tài liệu liên quan và thời gian để có thể phân tích kỹ hơn.
2. Tác động nhiều mặt của nền kinh tế và sinh hoạt người dân trong các năm 2022-2023 và 2025 cũng kéo mức tiêu thụ điện giảm xuống, dẫn đến HSĐH toàn giai đoạn giảm mạnh so với giai đoạn 2016-2020.
3. Tăng trưởng GDP hiện có xu hướng chuyển dần sang các lĩnh vực tiêu thụ điện thấp hơn trên mỗi đơn vị sản phẩm như đầu tư hạ tầng đường bộ, đường không, hậu cần, dịch vụ, tài chính và công nghệ số.
4. Một số ngành công nghiệp vốn sử dụng nhiều điện có các biện pháp cải tiến quy trình, dây chuyền, hoặc trang bị công nghệ tiên tiến hơn nhằm giảm tiêu hao điện, thậm chí họ chuyển sang sản xuất các sản phẩm sử dụng ít điện hơn. Nhất là xu thế tăng trưởng “xanh”, giảm phát thải của cả nước đang được nhiều doanh nghiệp thực hiện.
5. Khu vực tiêu thụ điện lớn thứ hai (sau công nghiệp) là tiêu dùng dân cư. Mặc dù tiếp tục có thêm các thiết bị dùng điện, nhưng với mức sống tăng lên, họ sẽ sử dụng các thiết bị điện có hiệu suất cao hơn. Tỷ lệ hộ dân được cấp điện đã lên tới 99,85%. Vì vậy, mức tăng tiêu thụ sẽ không lớn như giai đoạn trước.
6. Với các cơ chế thông thoáng về nguồn điện tự sản xuất, tự tiêu thụ, loại hình này sẽ tăng dần trong thời gian tới. Hơn nữa, khi mô hình hợp đồng mua bán điện trực tiếp (DPPA) với các cơ chế khuyến khích được nhân rộng, cũng sẽ tăng dần sản lượng loại hình này mà thống kê của EVN chưa thể xác định ngay. Tuy nhiên:
7. Nhu cầu công suất cực đại năm 2025 vẫn tăng cao (tăng 11,06% so với năm 2024), trong khi tổng công suất điện đưa vào trong năm chỉ đạt 6.400 MW (tăng 7,9%), cho thấy bên cạnh việc phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo (như gió, mặt trời), cần triển khai gấp các nguồn điện “có thể điều độ được” như nhiệt điện khí, thủy điện… để luôn đảm bảo an ninh cung cấp trong mọi tình huống.
Mặc dù xu hướng về tăng hiệu quả và tiết kiệm điện sẽ còn tiếp diễn, nhưng một tác động ngược lại là quá trình điện hóa (từ các dây chuyền sản xuất công - nông nghiệp, từ nhu cầu đun nấu gia đình, nhà hàng chuyển sang dùng điện thay vì các nguồn nhiên liệu hóa thạch), nhất là công nghệ xe điện sẽ ngày càng phổ biến. Hơn nữa, các ngành công nghiệp mới (như sản xuất bán dẫn, hệ thống AI, điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu lớn) sẽ phát triển mạnh trong 5 năm tới. Vì vậy, vẫn có những yếu tố làm tăng thêm nhu cầu điện, HSĐH điện/GDP sẽ không giảm nhanh.
Chính vì vậy, dự báo nhu cầu điện trong Quy hoạch điện VIII và Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đã có nhận định: “Hệ số đàn hồi điện theo GDP dự kiến khoảng từ 1,26-1,28 giai đoạn 2026-2030, sau giảm xuống 0,9-0,95 trong giai đoạn 2031-2035… Đến giai đoạn 2045-2050 HSĐH chỉ còn 0,3-0,44”.
Việc đánh giá HSĐH trong quá khứ, hiện tại và dự báo tương lai có vai trò quan trọng nhằm:
Thứ nhất: Xác định các ngành/lĩnh vực tiêu hao nhiều điện để có giải pháp cải tiến, chuyển đổi công nghệ,hoặc chuyển đổi sản phẩm nhằm giảm áp lực những đầu tư không cần thiết cho nguồn điện mới.
Thứ hai: Lập kế hoạch sản xuất, cung ứng điện sát thực và chủ động, tránh lãng phí.
Thứ ba: Sử dụng HSĐH như một thông số phục vụ công tác dự báo chính xác hơn trong quy hoạch phát triển trung và dài hạn.
[1] Hệ số âm (-) cho thấy tăng trưởng nhu cầu điện giảm trong khi GDP tăng.
[2] Trong phân ngành của tiêu thụ điện, dịch vụ thương mại được gọi là thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng.
[3] Nhu cầu điện cho quản lý - tiêu dùng dân cư bao gồm: Dân dụng thành thị và nông thôn; cơ quan Đảng, Nhà nước và tổ chức đoàn thể trong nước; các đại sứ quán, tổ chức của Liên Hợp quốc; văn phòng làm việc của các doanh nghiệp và đơn vị sự nghiệp./.
NGUYỄN ANH TUẤN (A) - HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM
Nguồn: nangluongvietnam.vn