Năng lực kiểm toán năng lượng: Bài toán con người, thiết bị và yêu cầu chuẩn hóa thị trường
Thứ hai, 05/01/2026 - 08:06
Kiểm toán năng lượng được xem là “điểm khởi đầu” của mọi nỗ lực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy năng lực con người, trang thiết bị và mức độ chuẩn hóa giữa các tổ chức kiểm toán vẫn còn nhiều khoảng trống.
Năng lực của các tổ chức công lập: Nền tảng khoa học vững nhưng thiếu nguồn lực thực thi
Trong hệ sinh thái kiểm toán năng lượng tại Việt Nam, các tổ chức công lập, bao gồm các viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm trực thuộc bộ, ngành giữ vai trò quan trọng trong đào tạo, nghiên cứu và xây dựng nền tảng khoa học cho lĩnh vực này. Tuy nhiên, khoảng cách giữa năng lực lý thuyết và năng lực triển khai thực tế vẫn là vấn đề được nhiều chuyên gia chỉ ra.
Theo ông Đỗ Bình Yên - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, chất lượng đầu vào và quá trình đào tạo kiểm toán viên hiện nay là một trong những nguyên nhân khiến hoạt động kiểm toán năng lượng “chưa đạt được như mong muốn”. Ông thẳng thắn chia sẻ: “Tôi chứng kiến có kiểm toán viên đi kiểm toán nhưng không phân biệt được các kiến thức tối thiểu như calo, jun, TOE… còn gọi nhầm lung tung”. Điều này phản ánh một thực tế rằng, dù được đào tạo bài bản trên lý thuyết, nhiều kiểm toán viên vẫn thiếu nền tảng thực hành và trải nghiệm kỹ thuật tại hiện trường.
Một hạn chế khác của khu vực công lập nằm ở điều kiện trang thiết bị phục vụ đo đạc, thí nghiệm và mô phỏng. Kiểm toán năng lượng là lĩnh vực đòi hỏi độ chính xác rất cao trong đo lường. Chỉ một sai số nhỏ trong đo nhiệt độ, áp suất hay lưu lượng cũng có thể dẫn đến sai lệch lớn trong tính toán hiệu quả năng lượng. “Chúng tôi mua những chiếc nhiệt kế để đo nhiệt độ lò thép, chỉ cần sai số một chút, đo điểm này 1.100 độ, điểm khác 900 độ là rất nguy hiểm. Người làm kiểm toán mà không thạo nghề thì không thể tính toán đúng”, ông Đỗ Bình Yên nhấn mạnh.

Kiểm toán năng lượng tại nhà máy luyện thép
Ở góc độ đào tạo, bà Nguyễn Thị Như Vân - Giảng viên Đại học Điện lực, cho rằng các cơ sở đào tạo công lập đang đứng trước thách thức rất lớn khi lĩnh vực kiểm toán năng lượng ngày càng mang tính liên ngành và thay đổi nhanh theo công nghệ. “Kiểm toán năng lượng không chỉ là kỹ năng đo đạc, mà còn là khả năng mô hình hóa năng lượng, phân tích dữ liệu, xây dựng giải pháp và thiết kế kế hoạch đo lường - thẩm tra theo các chuẩn như ISO 50002 hay IPMVP”, bà Vân nhận định. Tuy nhiên, nhiều cơ sở đào tạo vẫn thiếu phòng lab, thiếu thiết bị đo chuẩn, thiếu giảng viên có kinh nghiệm thực tế, khiến việc đào tạo chưa theo kịp yêu cầu của thị trường.
Còn theo ông Phạm Như Trung – Phụ trách Xưởng đào tạo Quản lý năng lượng, Trung tâm Hỗ trợ Phát triển doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh thì xu hướng hiện nay nhu cầu được đào tạo về quản lý năng lượng nhiều hơn về kiểm toán viên năng lượng. Và để theo kịp với sự thay đổi của công nghệ, thúc đẩy thị trường kiểm toán năng lượng, cần có các chương trình đào tạo nâng cao, cập nhật lại toàn bộ kiến thức cho kiểm toán viên, từ các nghị định mới đến các công nghệ mới, các giải pháp tiết kiệm năng lượng hiệu quả hơn.

Thực tế này cho thấy, các tổ chức công lập đang nắm giữ tri thức nền tảng và vai trò định hướng, nhưng lại thiếu nguồn lực để triển khai đào tạo gắn với thực tiễn, đặc biệt là trang thiết bị đo đạc hiện đại và cơ chế kết nối thường xuyên với doanh nghiệp. Nếu không có sự đầu tư đồng bộ, khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của thị trường kiểm toán năng lượng sẽ ngày càng giãn rộng.
Năng lực của các doanh nghiệp tư nhân: Năng động nhưng thiếu đồng đều
Trái với khu vực công lập, các doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán năng lượng lại thể hiện sự linh hoạt, năng động và bám sát thị trường. Tuy nhiên, chính sự đa dạng về quy mô, năng lực và mức độ đầu tư cũng tạo ra sự chênh lệch lớn về chất lượng dịch vụ.
Theo ông Nguyễn Trọng Hậu, Trưởng phòng Kỹ thuật Công ty CP Giải pháp Công nghệ Việt Nam (VETS), thị trường KTNL hiện nay tồn tại nhiều rào cản mang tính hệ thống. “Nhiều doanh nghiệp vẫn xem KTNL là chi phí đối phó, không phải là đầu tư sinh lời”, ông Hậu cho biết. Điều này tác động trực tiếp đến chất lượng dịch vụ, khi báo cáo kiểm toán chỉ dừng ở mức mô tả, thiếu dữ liệu đo đạc chi tiết và thiếu phân tích tài chính đủ sức thuyết phục doanh nghiệp triển khai giải pháp.
Ông Phan Tấn Phong, Phó Giám đốc Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ Kỹ thuật Châu Phong, cũng chỉ ra rằng phần lớn doanh nghiệp tư vấn vẫn đang hoạt động trong “vùng an toàn”. “Kiểm toán nâng cao chỉ được thực hiện khi khách hàng yêu cầu để đáp ứng điều kiện năng lực phục vụ đơn hàng, còn đa số doanh nghiệp chỉ làm ở mức cơ bản”, ông Phong nói. Các giải pháp đầu tư lớn, can thiệp sâu vào công nghệ thường bị né tránh do lo ngại áp lực từ phía doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Dưới góc nhìn của doanh nghiệp trực tiếp triển khai kiểm toán năng lượng, ông Nguyễn Văn Thuỳ – Giám đốc Công ty TNHH Năng lượng Bền vững Việt Nga cho rằng chiến lược đầu tư thiết bị cần dựa trên tần suất sử dụng và mức độ thiết yếu, tránh dàn trải, nhưng vẫn bảo đảm năng lực chuyên môn khi thực hiện các phân tích chuyên sâu.
Theo ông Thuỳ, các thiết bị sử dụng thường xuyên và mang tính cốt lõi trong hoạt động kiểm toán năng lượng được doanh nghiệp chủ động đầu tư và sở hữu. Hiện nay, Việt Nga có 5 máy phân tích chất lượng điện, trong đó có các dòng của Hioki cùng một số thiết bị đến từ Mỹ và Pháp; đồng thời trang bị đầy đủ các thiết bị đo điện, đo nhiệt độ, áp suất, phục vụ công việc đo đạc, thu thập dữ liệu tại hiện trường. Tổng thể, doanh nghiệp đang sử dụng khoảng 16–17 thiết bị đo điện và gần 10 thiết bị đo các thông số không điện, đủ đáp ứng các yêu cầu kiểm toán năng lượng và phân tích chuyên sâu.

Máy móc thiết bị quyết định chất lượng của báo cáo kiểm toán năng lượng
Đối với những thiết bị có chi phí đầu tư lớn nhưng tần suất sử dụng không cao, ông Thuỳ cho biết doanh nghiệp lựa chọn phương án thuê thiết bị hoặc thuê trọn gói dịch vụ kèm chuyên gia. “Các thiết bị như đo lưu lượng siêu âm hay phân tích khí thải có giá rất cao, trong khi không phải dự án nào cũng cần, nên chúng tôi thuê khi thực sự cần thiết”, ông Thuỳ chia sẻ. Tương tự, với các phân tích chuyên sâu về lò, đặc biệt là các hạng mục như siêu âm vách và cấu trúc lò, doanh nghiệp buộc phải thuê đơn vị bên ngoài do chi phí thiết bị quá lớn so với tần suất sử dụng trong năm.
Bên cạnh đó, với một số thiết bị chuyên dụng có tính bắt buộc, ông Thuỳ khẳng định doanh nghiệp vẫn chủ động đầu tư. Điển hình là thiết bị đo đặc tuyến tấm pin mặt trời, được mua để phục vụ kiểm tra, bảo trì và đánh giá hiệu suất các nhà máy điện mặt trời – lĩnh vực mà công ty triển khai thường xuyên.
“Về cơ bản, hệ thống thiết bị hiện nay đủ để chúng tôi thực hiện kiểm toán năng lượng theo yêu cầu trong nước và các tiêu chuẩn quốc tế; với những hạng mục đặc thù, việc thuê thiết bị hoặc thuê trọn gói dịch vụ là giải pháp hợp lý và hiệu quả”, ông Nguyễn Văn Thuỳ nhấn mạnh.
Việc ứng dụng phần mềm chuyên dụng cũng góp phần rút ngắn thời gian phân tích, tăng độ tin cậy của kết quả và được doanh nghiệp đánh giá cao. Đây cũng là xu hướng bắt buộc đối với các tổ chức kiểm toán năng lượng chuyên nghiệp trong thời gian tới nhằm bảo đảm tính khách quan, minh bạch và chất lượng của hoạt động kiểm toán năng lượng.

Ở chiều ngược lại, từ góc nhìn doanh nghiệp sử dụng năng lượng, ông Lê Khắc Giang, Phó Trưởng phòng An toàn Kỹ thuật Công ty TNHH NatSteelVina, cho rằng năng lực của đơn vị kiểm toán chỉ thực sự phát huy khi doanh nghiệp có nhận thức đúng. “Chúng tôi phản biện, tranh luận với kiểm toán viên cho đến khi báo cáo đạt chất lượng, rồi dùng kết quả đó để thay đổi thiết bị và quy trình vận hành”, ông Giang cho biết. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận đây chưa phải là cách làm phổ biến, khi nhiều doanh nghiệp vẫn chỉ làm KTNL cho đủ thủ tục.
Thực tế cho thấy, khu vực tư nhân có tiềm năng lớn về nhân lực và khả năng triển khai nhanh, nhưng thiếu cơ chế sàng lọc và chuẩn hóa, dẫn đến thị trường phát triển không đồng đều, chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều vào đạo đức nghề nghiệp và kinh nghiệm cá nhân của từng đơn vị.
Chuẩn hóa hoạt động kiểm toán năng lượng: Yêu cầu cấp thiết đối với cơ quan quản lý
Trước những hạn chế về năng lực con người và trang thiết bị của cả khu vực công và tư, yêu cầu chuẩn hóa hoạt động kiểm toán năng lượng đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, đặc biệt trong bối cảnh Luật số 77/2025/QH15 sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
Theo ông Mã Khai Hiền, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển về Tiết kiệm năng lượng (ENERTEAM), việc chuẩn hóa cần được tiếp cận một cách hệ thống. “Cần ban hành bộ tiêu chí quốc gia về báo cáo kiểm toán và kiểm toán theo từng chuyên ngành, đồng thời có cơ chế kiểm tra chéo, thẩm tra độc lập để nâng cao chất lượng”, ông Hiền đề xuất. Việc công khai danh sách các tổ chức tư vấn vi phạm hoặc báo cáo không đạt yêu cầu cũng là một giải pháp nhằm tăng tính minh bạch cho thị trường.
Còn theo ông Nguyễn Văn Thuỳ - Giám đốc Công ty TNHH Năng lượng Bền vững Việt Nga thì, “việc công bố các tiêu chí là rất quan trọng. Những đơn vị nào đạt đủ các tiêu chí đó thì được xác định là có đủ năng lực. Khi có bộ tiêu chí rõ ràng, việc tổ chức sẽ mang tính độc lập, thống nhất và thuận lợi cho doanh nghiệp. Ở đây không phải là câu chuyện cấp phép, mà chỉ căn cứ vào các tiêu chí đã được công bố để hoạt động. Sau này, nếu có sai phạm thì sẽ xử lý theo quy định, chứ không phải là tiền kiểm hay xin – cho”.
_co_lap_bo_thu_hoi_nhiet.jpg)
Máy stenter (căng vải) có lắp bộ thu hồi nhiệt – giải pháp sau kiểm toán năng lượng
Bên cạnh đó, vấn đề đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cũng cần được quản lý chặt chẽ hơn. Nhiều ý kiến cho rằng cần xây dựng khung năng lực quốc gia cho kiểm toán viên năng lượng, quy định rõ yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng sử dụng thiết bị. Điều này không chỉ giúp chuẩn hóa đầu vào của lực lượng kiểm toán viên mà còn tạo cơ sở để đánh giá, giám sát chất lượng dịch vụ.
Một hướng đi quan trọng khác là đầu tư cho hạ tầng số và dữ liệu. Ông Mã Khai Hiền nhấn mạnh vai trò của nền tảng số trong KTNL, nơi dữ liệu năng lượng được thu thập và liên thông, phục vụ cả quản lý nhà nước và nhu cầu tự giám sát của doanh nghiệp. Khi dữ liệu minh bạch, việc đánh giá hiệu quả kiểm toán và triển khai giải pháp tiết kiệm năng lượng sẽ trở nên rõ ràng và thuyết phục hơn.
Cũng gần với quan điểm này, ông Nguyễn Văn Thuỳ cho biết, Việt Nga làm dịch vụ kiểm toán năng lượng không chỉ để hoàn thành nghĩa vụ theo luật, mà còn là một cơ hội kinh doanh minh bạch. “Chúng tôi luôn giữ “chất” của đơn vị tư vấn khoa học – kỹ thuật, đồng hành cùng doanh nghiệp đến khi triển khai được giải pháp. Báo cáo kiểm toán năng lượng của chúng tôi được coi như một báo cáo tiền khả thi, với dữ liệu kỹ thuật, hiệu quả đầu tư rõ ràng, đủ để doanh nghiệp ra quyết định. Trên cơ sở đó, các cơ hội kinh doanh tiếp theo như nâng cấp, cải tạo, thay thế thiết bị, ứng dụng điện mặt trời hay các giải pháp kỹ thuật khác sẽ mở ra một cách tự nhiên”.
Từ thực tiễn doanh nghiệp, các ý kiến cũng cho rằng cơ quan quản lý cần sớm làm rõ những chồng chéo trong quy định, đặc biệt với các ngành đặc thù như vận tải, nhằm tạo sự thống nhất trong triển khai. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích các mô hình tốt, các dự án ESCO tiêu biểu, để tạo niềm tin cho doanh nghiệp và thúc đẩy thị trường phát triển lành mạnh.
Có thể nói, năng lực kiểm toán năng lượng tại Việt Nam đang đứng trước ngã rẽ quan trọng. Khi yêu cầu tiết kiệm năng lượng và chuyển đổi xanh ngày càng cao, việc nâng cao năng lực con người, đầu tư trang thiết bị, các phần mềm quản trị và chuẩn hóa thị trường không còn là lựa chọn, mà là điều kiện tiên quyết. Nếu được tháo gỡ đúng cách, kiểm toán năng lượng hoàn toàn có thể trở thành công cụ hiệu quả, góp phần thực chất vào mục tiêu sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và phát triển bền vững của nền kinh tế.
Theo: Hội VECEA